Di-lặc hay Di Lặc (zh. 彌勒, sa. maitreya, pi. metteyya là cách phiên âm, dịch nghĩa là Từ Thị (慈氏), “người có lòng từ”, cũng có thuyết có tên là Vô Năng Thắng (zh. 無能勝, sa. ajita), phiên âm Hán-Việt là A-dật-đa. Di Lặc là một vị Bồ Tát hay là Chuyển luân thánh vương.
Trong Phật giáo Tây Tạng, bồ tát Di-lặc được thờ cúng rất rộng rãi. Trong Phật giáo Trung Hoa, từ thế kỷ 10, hòa thượng Bố Đại được xem là hiện thân của Di Lặc.
Truyền thuyết và kinh điển
Theo truyền thuyết và kinh điển Phật giáo, Di Lặc là vị Bồ tát sẽ xuất hiện trên Trái Đất, đạt được giác ngộ hoàn toàn, giảng dạy Phật Pháp, giáo hóa chúng sinh, và chứng ngộ thành Phật. Phật Di Lặc sẽ là vị Phật kế thừa Đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni. Cõi giáo hóa của Bồ Tát hiện nay là nội viên của cõi trời Đâu-suất (sa. tuṣita). Bồ Tát Di-lặc được tiên tri sẽ giáng sinh trong kiếp giảm của tiểu kiếp kế tiếp, khi nhân thọ là 80.000 năm, tức khoảng 9 triệu năm nữa theo năm Trái Đất, khi Phật Pháp đã bị lãng quên trên cõi Diêm phù đề. Sự tích về Phật Di Lặc được tìm thấy trong các tài liệu kinh điển của tất cả các tông phái Phật giáo (Nguyên thủy, Đại thừa, Kim cương thừa), và được chấp nhận bởi hầu hết các Phật tử như là một sự kiện sẽ diễn ra khi Phật Pháp đã bị lãng quên trên Trái Đất, và Bồ Tát Di-lặc sẽ là bậc giác ngộ Pháp và thuyết lại cho chúng sinh, tương tự như những vị Phật lịch sử đã làm trong quá khứ.
Nếu năm đức Phật xuất hiện trên Trái Đất được xem là hóa thân của Ngũ Phật thì Bồ Tát Di-lặc được xem như hóa thân của Thành sở tác trí (xem Phật gia, Ngũ trí).
Có thuyết cho rằng, chính Bồ Tát Di-lặc là người khởi xướng hệ phái Duy thức của Đại thừa. Một số học giả cho rằng, vị này chính là Maitreyanātha (sa. Maitreya-nātha), thầy truyền giáo lý Duy thức cho Vô Trước (sa. asaṅga). Truyền thống Phật giáo Tây Tạng cho rằng, Ngài là tác giả của năm bài luận, được gọi là Di Lặc (Từ Thị) ngũ luận:
- Đại thừa tối thượng luận hoặc Cứu cánh nhất thừa bảo tính luận (sa. mahāyānottaratantra)
- Pháp pháp tính phân biệt luận (sa. dharmadharmatāvibaṅga)
- Trung biên phân biệt luận (sa. madhyāntavibhāga-śāstra)
- Hiện quán trang nghiêm luận (sa. abhisamayālaṅkāra)
- Đại thừa kinh trang nghiêm luận (sa. mahāyānasūtralaṅkāra)
Nguồn gốc
Tên Từ Thị (Maitreya trong tiếng Phạn, hay là Metteyya trong tiếng Pāli) xuất phát từ truyền thuyết: vì muốn giáo hóa các chúng sanh nên từ lúc mới phát tâm, Ngài đã không ăn thịt chúng sanh. Còn theo Đại Nhật Kinh Sớ, Từ Thị nghĩa là chủng tính từ bi, gồm hai chữ: Từ trong Tứ vô lượng tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả) của Phật, Thị là chủng, họ, tộc, do lòng Từ đó sanh ra từ chủng tính Như Lai, có năng lực làm cho tất cả thế gian không đoạn dứt Phật chủng.
Còn theo phẩm Tùy Hỷ trong Kinh Pháp Hoa và Kinh Bình Đẳng Giác, Di-lặc chính là A-dật-đa (tiếng Phạn: Ajita, Hán dịch là Vô Thắng, Vô Năng Thắng hoặc Vô Tam Độc). Ngài là một vị đệ tử của Phật Thích-ca. Nhưng theo Kinh Thuyết Bản trong Trung A-hàm 13, Kinh Xuất Diệu 6 và Luận Đại Tỳ-bà-sa 178, Di-lặc và A-dật-đa là hai nhân vật khác nhau. Trong bài kệ tựa phẩm Bỉ Ngạn Đạo (Pàràyana) của Kinh Tập (Sutta – nipàta) thuộc Đại Tạng Kinh Pàli đều nêu cả hai tên A-dật-đa (Ajita) và Đế-tu Di-lặc (Tissametteyya), tức hoàn toàn cho đó là hai người khác nhau.
Từ Thị được đề cập sớm nhất ở Cakavatti (Sihanada) Sutta, Digha Nikaya 26 trong Kinh tạng Pali. Một số kinh Pali khác không có sự xuất hiện của Ngài, dẫn đến việc nghi ngờ tính xác thực của một số bài kinh. Hầu hết các bài giảng của Đức Phật được trình bày ở dạng hỏi đáp, trong đó, đức Phật giải đáp các thắc mắc của đệ tử, hoặc trong một số bối cảnh thích hợp khác. Nhưng kinh này có một khởi đầu và kết thúc, trong đó Đức Phật đang nói chuyện với các nhà sư về một cái gì đó hoàn toàn khác. Điều này dẫn Gombrich đến kết luận rằng một trong hai loại kinh là ngụy tạo, hoặc ít nhất bị giả mạo.
Hình tượng
Tượng Phật Di Lặc trên đỉnh núi Cấm, An Giang
Trong tranh hay tượng, Di-lặc ngồi trên mặt đất, biểu tượng sẵn sàng đứng dậy đi giáo hóa chúng sinh.
Tại Trung Quốc, Bồ Tát Di-lặc cũng hay được trình bày với tướng mập tròn vui vẻ, trẻ con quấn quýt xung quanh. Người ta tin rằng đó chính là hình ảnh của Bố Đại Hòa thượng, một hóa thân của Di-lặc ở thế kỉ thứ 10.
Tạo hình: Tượng phật di lặc bằng gỗ
Hình ảnh
Theo Phật giáo Nguyên thủy và Nam Tông
-
Bồ Tát Di Lặc, nghệ thuật Mathura, thế kỷ thứ 2
-
Di Lặc theo nghệ thuậtGandhara, thế kỷ thứ 2
-
Tượng đồng Di Lặc thế kỷ 9, nghệ thuậtSrivijaya, từ Nam Sumatra, trang trí trên đỉnh 1 stupa
-
Phật Di Lặc khắc trong núi đá, cao 27 m, khoảng thế kỷ thứ 5, tại Bỉnh Linh tự (Bingling Temple), Vĩnh Tĩnh, Trung Quốc
-
Một bức tượng Phật Di Lặc trong tu viện Jamchen Lhakhang tại stupa Bouddhanath,Kathmandu, Nepal.
-
Tượng Di Lặc ngồi, nghệ thuật Hàn Quốc, thế kỷ 4-5. Hiện vật Bảo tàng Guimet
-
Tượng Phật Di Lặc tạc vào vách núi Lạc Sơn(Lạc Sơn Đại Phật) ở Trung Quốc, khởi xây vào năm 713
-
Bồ tát Di Lặc, nghệ thuật Tây Tạng, thế kỷ 18
-
Tại chùa Wat Intharawihan, quận Phra Nakhon, Bangkok, Thái Lan
-
bức tượng Phật Di Lặc cao 23 mét (75 ft) ở thung lũng Nubra,Ladakh, Ấn Độ, dựng năm 1999
-
bức tượng Phật Di Lặc cao 32 mét (110 ft) ở thung lũng Nubra,Ladakh, bang Jammu và Kashmir, Ấn Độ, dựng năm 2010
-
Tượng Di Lặc cao 33m mạ vàng tại chùa Beopju,Chungcheong Bắc, Hàn Quốc, dựng năm 1990
Theo Bắc Tông và ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa
Hình tượng Di Lặc này là dựa theo tính cách của hòa thượng Bố Đại, được xem là một hiện thân của Di-lặc trong Phật giáo Trung Hoa, từ thế kỷ 10
-
Nhà sư Bố Đại như là một hóa thân của Phật Di Lặc
-
Tượng Phật Di lặc khắc vào khoảng thế kỷ 11 trong hang núi của chùaLinh Ẩn Tự tại Hàng Châu, Chiết Giang.
-
Hiện vật thời nhà Minh,Hà Nam (Trung Quốc), khoảng năm 1486
-
Tượng Di Lặc tại núi Thiên Phật, Lịch Hạ, Tế Nam, Trung Quốc
-
Tại chùa Bắc Tự, Tô Châu
-
Buddha Beipu.jpg
Tượng Di Lặc cao 57,6 m gần Bắc Phố, huyện Tân Trúc, Đài Loan
-
Tượng Phật Di Lặc (Bố Đại) tại Chùa Vĩnh Tràng, Mỹ Tho.
-
Tượng Phật Di Lặc bằngđồng trên đỉnh núi thuộcchùa Bái Đính, Ninh Bình, Việt Nam.
-
Tượng phật di lặc bằng gỗ trong phong thủy
Xem thêm—————->
Bố Đại
Bố Đại (Hotei trong tiếng Nhật), tranh vẽ của Kano Takanobu, 1616
Bố Đại (zh. 布袋) là một Thiền sư Trung Quốc ở thế kỷ thứ 10. Tương truyền sư hay mang trên vai một cái túi vải bố, có nhiều phép mầu và có những hành động lạ lùng mang tính chất “cuồng thiền”. Lúc viên tịch, sư mới thổ lộ cho biết chính sư là hiện thân của Di-lặc, vị Phật tương lai.
Trong nhiều chùa tại Trung Quốc và Việt Nam, và theo ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa và Bắc Tông, người ta hay trình bày tượng Di-lặc dưới dạng của Bố Đại mập tròn vui vẻ, trẻ con đeo chung quanh.
Thân thế
Bố Đại ở Phụng Hóa Minh Châu triều Lương đời Ngũ Đại, tự xưng là Khế Thử (zh. 契此). Hình dạng sư thì lùn, mập, nói năng tự tại, ăn ngủ tùy tiện. sư thường mang một bao bố trên vai để bỏ vào đó những vật người cúng dường. sư được quần chúng mến phục vì có tài tiên tri thời tiết mưa nắng. Một khi sư ngủ ngoài đường, mọi người biết trời sẽ tốt, ngược lại lúc sư đi giày dép và kiếm chỗ tạm trú thì trời sẽ mưa.
Tính tình của sư rất “ngược đời”, được cho là theo tinh thần Thiền tông. Trả lời câu hỏi già trẻ bao nhiêu, sư nói “già như hư không”. Giữa chợ, có người hỏi tìm gì, “ta tìm con người”, sư trả lời. Một hôm có vị tăng đi phía trước, sư liền vỗ vai ông ta nói: “Cho tôi xin một đồng tiền”. Vị tăng bảo: “Nói được thì tôi cho ông một đồng tiền”, sư liền bỏ bao xuống đất đứng im lặng khoanh tay.
Sư có nhiều thần thông, ngủ ngoài tuyết, tuyết không rơi vào mình. Trước khi tịch, sư ngâm câu kệ:
- 彌勒真彌勒
- 分身千百億
- 時時示時人
- 時人自不識
- Di-lặc, Chân Di-lặc
- Phân thân thiên bách ức
- Thời thời thị thời nhân
- Thời nhân tự bất thức.
- Di-lặc, chân Di-lặc
- Phân thân trăm ngàn ức
- Luôn luôn bảo người đời
- Người đời tự chẳng biết.
Sau khi chết, có người vẫn thấy sư ở nơi khác tại Trung Quốc. Người đời sau vẽ lại hình sư với bị gạo và từ đó tạo ra hình Bồ Tát Di-lặc, ngày nay thường thấy ở nhiều quốc gia chịu ảnh hưởng Phật giáo Bắc tông.